Du lịch Đông Bắc thời hội nhập, hòa nhập hay hòa tan?

1620

Nhắc đến vùng Đông Bắc của tổ quốc chắc hẳn ai trong mỗi chúng ta đều nghĩ ngay đến 6 tỉnh miền núi phái Bắc: Cao – Bắc – Lạng, Thái – Tuyên – Hà. Mỗi tỉnh với một nét đặc trưng riêng nhưng đều mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc miền núi phía Bắc. Trong thời kỳ hội nhập, du lịch văn hóa vùng Đông Bắc liệu có hòa tan hay khéo léo hòa nhập ?

Bản sắc văn hóa du lịch vùng Đông Bắc được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, trong đời sống xã hội, trong đó có những lễ hội truyền thống.

Cao Bằng là một nơi có nhiều lễ hội truyền thống được giữ gìn và bảo tồn đến ngày nay. Một trong số đó là lễ hội Pháo hoa – Quảng Uyên được xem là lễ hội lớn nhất trong năm, gắn với các yếu tố lịch sử, tâm linh của miếu Bách Linh được tổ chức vào ngày 2/2 âm lịch hàng năm. Phần lễ cầu cho quốc thái, dân an, mưa thuận gió hòa. Phần hội sôi động với nhiều trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ như múa lân, tung còn,… Lễ hội thu hút lượng lớn du khách thập phương và những đoàn khách quốc tế đến để tìm hiểu về văn hóa du lịch.

Đến với Cao Bằng, tôi có dịp phỏng vấn ông Nguyễn Văn Phú ( Huyện Quảng Uyên – Thành phố Cao Bằng ). Trả lời phỏng vấn, ông nói rằng: “ Tôi tự hào là một người con của Cao Bằng, nơi Bác Hồ đã đặt chân về Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng, cũng là một nơi có truyền thống yêu nước với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và lễ hội nổi tiếng. Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên đã có từ rất lâu đời. Tương truyền từ thời xa xưa khi đánh tan quân xâm lược nhà Tống, Thánh nhân Nùng Trí Cao đã chọn nơi đây để tổ chức mừng quân chiến thắng (với tên gọi Hội Pháo Hoa). Thu hút đông đảo quan khách đến với lễ hội”.       

Một góc tại Lễ hội pháo hoa tại Quảng Uyên – Cao Bằng

Khác với Cao Bằng. Xứ Lạng lại dẫn dụ du khách bằng vẻ bề ngoài quyến rũ và cái hồn ẩm thực đặc sắc núi rừng, lợn quay, vịt quay, phở chua, khâu nhục, rượu Mẫu Sơn, đào Mẫu Sơn, hồi Xứ Lạng, bánh ngải,… là những món ăn đặc sắc mang đậm hương vị và chỉ nơi đây mới có. Những món ăn này tạo nên sự khác biệt. Và dường như khi nhắc đến Lạng Sơn là không ai nhớ tới những sản phẩm đã làm nên thương hiệu của của Xứ Lạng.

Lang thang đi dọc các cùng đường và phiên chợ trên Lạng Sơn, tôi bắt gặp được nhiều quán ăn truyền thống ở đây, thu hút tôi là món vịt quay vàng nhuộm, phỏng vấn bà Nguyễn Thị Hậu chủ cửa hàng vịt quay cho hay: Vịt quay lá mắc mật ( móc mật ) là món ăn nổi tiếng của đất Lạng Sơn , khách du lịch khi đến đây đều không thể bỏ qua món vịt quay ” nức tiếng ” này . Vịt bầu Thất Khê , cùng lá mắc mật quay lên tạo vị thơm ngon không thể cưỡng lại với các du khách gần xa Vịt quay được chọn là giống vịt bầu Thất Khê , ở đây có giống vịt dầy mình , xương nhỏ và thịt mềm . Kết hợp với đó là loại lá đặc sản gọi là lá mắc mật , chọn lá mắc mật tươi . Sau khi vịt được làm sạch sẽ nhồi lá vào bụng vịt và tiến hành quay đến khi chín vàng , có vịt rất thơm của lá mắc mật cùng thịt vịt mềm ăn ngon không thể cưỡng lại”.

Vịt quay – món ăn đặc sản của Tỉnh Lạng Sơn

Bên cạnh đó, Hà Giang rộng lớn hùng vĩ và hoang sơ, ôm trọn những cảnh quan tuyệt đẹp, cũng như dung dưỡng những nét văn hóa của đồng bào dân tộc. Những điểm đến thú vị ở Hà Giang gồm phiên chợ vùng cao Đồng Văn, Đèo Mã Pí Lèng, cột cờ Lũng Cũ, những nương ruộng vàng hoa cải, phớt hồng sắc hoa tam giác mạch. Miền đất Hà Giang thật khéo mê hoạc bao kẻ ưa khám phá bằng những con đường mềm mại vắt qua lưng chừng núi.

Ruộng hoa tam giác mạch tại Tỉnh Hà Giang

Bắc Cạn – Thái Nguyên – Tuyên Quang cũng chứa đựng nhiều vẻ đẹp tiềm ẩn, trù phú với vô số vẻ đẹp mà mỗi lần đi là một lần khiến người ta kinh ngạc, ruộng bậc thang nối liền khắp đường đi bên những dãy nũi đá hùng vĩ hay nét độc đáo trong đời sống sinh hoạt của người vùng cao, những bộ trang phục cổ truyền, nét kiến trúc nhà sàn của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc cùng làn điệu âm nhạc đặc trưng từng dân tộc tạo nên nét đẹp lãng mạng, hoang sơ, thơ mộng.

Trong thời kỳ hội nhập, công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành. Du lịch văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc nước ta đã và đang có những biến đổi mạnh mẽ do tác động từ nhiều yếu tố bên ngoài làm cho văn hóa dân tộc miền núi phía Bắc dần mai một.

 Sự phát triển nhanh chóng của thời kỳ hội nhập, văn hóa ngoại lai du nhập do thiếu kiểm soát khiến không gian du lịch văn hóa vùng Đông Bắc bị biến dạng, mất đi. Thế hệ trẻ ngày nay không còn quá mặn mà, yêu quý giữ gìn truyền thống quý báu đó. Những món ăn cổ truyền không còn được ưa chuộng thay vào đó là những món ăn hiện đại. Cũng như lối sống hiện đại không còn xem trọng các phong tục cổ truyền. Thậm chí còn cho đó là lạc hậu, lỗi thời. Du lịch vùng cao không còn là lựa chọn hàng đầu của nhiều người. Nhiều giá trị truyền thống vốn có bị quên lãng. Đứng trước nguy cơ hòa tan trong thời kì hội nhập phát triển. Đảng và nhà nước ta đã có sự quan tâm tới chính sách bảo tồn phát huy các giá trị du lịch văn hóa vùng. Khéo léo tiếp thu học hỏi những cái mới mà không làm mất đi những nét đặng trưng vốn có. Cấp ủy chính quyền địa phương cũng như chính phủ đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa truyền thống, không ngừng quảng bá văn hóa, du lịch, ẩm thực đến bạn bè quốc tế. Thu hút các nhà đầu tư biết đến giúp khai thác hiệu quả du lịch, văn hóa, lễ hội, ẩm thực,… Nhà sàn vùng cao được bảo tồn phục dựng trở thành những khu reshot thiên nhiên thú vị, làn điệu hát then, đàn tính, tiếng khèn tiếng sáo in sâu vào tâm trí mỗi vị khách khi đến với Đông Bắc hay những bộ trang phục cổ truyền, món quà lưu niệm không thể thiếu khi đến nơi đây.. Hang động thiên nhiên, cung đường đèo bên vách núi đá được mở rộng đưa vào khai thác trở thành địa điểm lý tưởng để phượt, khám phá dành cho những vị khách ưa phiêu lưu mạo hiểm đặc biệt là du khách quốc tế, hoa tam giác mạch được trồng rộng rãi tại nhiều thôn, bản thu hút lượng lớn khách tham quan không chỉ giúp tăng thu nhập cho người dân mà còn làm thay đổi bộ mặt vùng Đông Bắc của Tổ Quốc. Góp phần quảng bá hình ảnh Đông Bắc nói riêng, Việt Nam nói chung tới bạn bè quốc tế.

 

 PHỤ LỤC THAM KHẢO

Khách quốc tế đến các địa phương trong Vùng Đông Bắc ( 2000 – 2018 )

Đơn vị: Lượng khách

TT Tên tỉnh 2000 2005 2010 2018 (*) Tốc độ tăng (%)
1 Cao Bằng 930 1.780 15.750 50.000 30,0
2 Bắc Cạn 2.500 3.350 5.400 15.000 12,7
3 Hà Giang 13.800 31.900 48.050 200.000 19,5
4 Lạng Sơn 60.000 85.000 250.000 400.000 13,4
5 Tuyên Quang 350 3.000 9.000 27.000 33,6
6 Thái Nguyên 10.000 12.000 21.600 50.000 11,3

 

Khách nội địa đến các địa phương trong Vùng Đông Bắc ( 2000 – 2018 )

Đơn vị: Lượng khách

TT Tên tỉnh 2000 2005 2010 2018 (*) Tốc độ tăng (%)
1 Cao Bằng 18.390 41.970 301.450 630.000 27,7
2 Bắc Cạn 25.000 55.000 145.000 350.000 19,0
3 Hà Giang 16.400 37.450 253.300 600.000 27,1
4 Lạng Sơn 120.000 850.000 1.650.000 2.500.000 24,1
5 Tuyên Quang 35.000 297.000 490.000 1.300.000 27,0
6 Thái Nguyên 160.000 500.000 1.428.400 1.900.000 16,0

 

Tổng thu từ du lịch các Tỉnh trong Vùng Đông Bắc ( 2000 – 2018 )

Đơn vị tính: Tỷ đồng

TT Tên tỉnh 2000 2005 2010 2018 (*) Tốc độ tăng (%)
1 Cao Bằng 4,3 14,6 49,2 115,0 24,5
2 Bắc Cạn 3,8 10,2 75,3 260,0 32,5
3 Hà Giang 17,0 95,0 308,0 600,0 27,0
4 Lạng Sơn 70,0 288,0 730,0 1.000,0 19,4
5 Tuyên Quang 50,0 320,0 550,0 1.500,0 25,5
6 Thái Nguyên 17,0 36,5 83,1 1.000,0 31,2

 

 Đặng Quang Huy – Hoàng Linh Hương

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

6 + 1 =